WELCOME TRITHUC CO.,LTD - BOOKING AIR TICKET AGENT
Đại lý bán vé máy bay - 376A Trương Công Định, Phường 8, TP. Vũng Tàu | Điện thoại: 84-064-3500878 | Fax: 84-064-3584084 | Hotline: 0.944.944.789. Phục vụ 24/24h. Dịch vụ giao vé tận nhà. Phục vụ tận tình, phong cách chuyên nghiệp. | Rất hân hạnh được phục vụ Quý Khách !
Tra giá vé Vietnam Airlines
Tra giá vé JetStar
Tra giá vé Indochino Airline
Tra giá vé của Airasia
Tra giá vé Tigerairways
Tra vé Cebupacificair
Tra giá vé Malaysia Airlines
Chống cận thị học đường

THÔNG TIN CẢNG HÀNG KHÔNG TẠI VIỆT NAM

1. Cảng hàng không Rạch Giá

1. Giới thiệu
    Cảng hàng không Rạch Giá thuộc địa phận huyện Kiên Thành, tỉnh Kiên Giang, ở cách trung tâm thị xã Rạch Giá 7km về phía Nam, cách thị trấn Rạch Sỏi 1km về phía đông; phía đông và phía Tây nam Cảng hàng không là ruộng lúa ao hồ, phía Bắc giáp quốc lộ 80.
    Cảng hàng không Rạch Giá thuộc địa phận huyện Kiên Thành, tỉnh Kiên Giang, ở cách trung tâm thị xã Rạch Giá 7km về phía Nam, cách thị trấn Rạch Sỏi 1km về phía đông; phía đông và phía Tây nam Cảng hàng không là ruộng lúa ao hồ, phía Bắc giáp quốc lộ 80. Cảng hàng không Rạch Giá nằm trên tọa độ quy chiếu 09057’15” vĩ Bắc và 105008’09” kinh Đông. Khoảng cách từ Cảng hàng không Rạch Giá đi các Cảng hàng không khác: đi Cảng hàng không Tân Sơn Nhất là 192km, đi Phú Quốc là 130km, đi Cần Thơ là 164km và đi Cà Mau là 86 km.
2. Quá trình hình thành
    Cảng hàng không Rạch Giá là Cảng hàng không ở ven biển phía Tây Nam, thuộc tỉnh Kiên Giang. Cảng hàng không Rạch Giá được thực dân Pháp xây dựng từ những năm 50 khi trở lại chiếm đóng Nam Bộ. Chức năng chính của Cảng hàng không lúc ấy là đảm bảo liên lạc hành chính giữa Sài Gòn và miền Tây Nam bộ. Đầu năm 1960, Mỹ tiếp tục hoàn chỉnh xây dựng Cảng hàng không Rạch Giá thành một trong những căn cứ của Hàng không dân dụng ngụy quyền, sử dụng chính cho mục đích quân sự với tổng diện tích là 489.200m2, đường hạ cất cánh dài 1170m x 30m, đường lăn vuông góc với đường hạ cất cánh dài 85m x 15m, sân đậu rộng 5.500m2, nhà ga có diện tích 60m2. Thời gian đầu sau giải phóng, Cảng hàng không phục vụ chủ yếu cho nông nghiệp, vận chuyển cho các nông trường Mỹ Lâm, Bình Sơn 1, 2, 3 với các loại máy bay DC3, AN2, LI 14. Năm 1979, diện tích Cảng hàng không được mở rộng thành 32.875m2. Trong những năm gần đây, Cảng hàng không Rạch Giá luôn ổn định lượng khách nội địa và quốc tế với khoảng 100 khách mỗi ngày. Cảng hàng không này thường xuyên tiếp đón các chuyên cơ, các chuyến bay cấp cứu y tế, các chuyến bay thuê bao...
3. Cơ sở hạ tầng
    Từ 1962 đến 1975, chế độ Mỹ nguỵ đã xây dựng và cải tạo Cảng hàng không Rạch Giá có đường hạ cất cánh có kích thước 1170m x 30m, 1 đường lăn vuông góc với đường hạ cất cánh dài 85m x rộng 15m, sân đậu máy bay có diện tích 5.500m2; Nhà ga hành khách có diện tích 60m2. Năm 1987, Tổng cục hàng không và Ủy ban Nhân dân Tỉnh Kiên Giang đầu tư kéo dài đường hạ cất cánh đạt kích thước 1500m x 30m kéo dài về phía Đông đầu 26. Từ tháng 10/1996 đến tháng 1/1998, Cảng hàng không Rạch Giá ngưng hoạt động bay để cải tạo nâng đường hạ cất cánh, đường lăn, sân đậu máy bay để khai thác các loại máy bay ATR 72, Fokker 70 và tương đương. Nhằm phục vụ nhu cầu phát triển lâu dài của Cảng hàng không Rạch Giá, ngày 11/11/2005, Cụm cảng Hàng không Miền Nam đã tiến hành khởi công gói thầu “Xây lắp nhà ga và các công trình phụ trợ” thuộc dự án “Xây dựng nhà ga và Cải tạo sân đỗ máy bay cảng hàng không Rạch Giá”. Đây là dự án do Cụm cảng Hàng không miền Nam làm chủ đầu tư và tổ chức thực hiện theo trình tự, thủ tục và quy định hiện hành của Nhà nước. Việc xây dựng nhà ga hành khách là yêu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng nhu cầu khai thác hiện nay và đến năm 2015. Mục tiêu của dự án là đầu tư xây dựng mới nhà ga hành khách đồng thời cải tạo, nâng cấp, mở rộng sân đỗ ô tô, sân đỗ máy bay để đảm bảo hoạt động đồng bộ cho cảng hàng không Rạch Giá. Nhà ga hành khách cảng hàng không Rạch Giá được xây mới với khả năng phục vụ 150 hành khách/giờ cao điểm tương đương 145.000 lượt hành khách thông qua/năm. Tổng diện tích nhà ga là 2.895m2 sử dụng 01 cao trình bao gồm 02 tầng (một trệt, một lửng), diện tích đất là 60m x 31.6m. Công trình thuộc cấp II, nhóm B. Thời gian thi công công trình là 13 tháng và dự kiến sẽ hoàn thành vào quý IV/2006. Việc thực hiện đầu tư xây dựng nhà ga hành khách và cải tạo sân đỗ máy bay cảng Hàng không Rạch Giá không chỉ đáp ứng nhu cầu hành khách trong tương lai mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, thu hút đầu tư, mở mang dịch vụ thương mại, du lịch tại tỉnh Kiên Giang và khu vực phía Nam. Cảng hàng không Rạch Giá hiện có một đường hạ cất cánh dài 1.500 mét, rộng 30 mét; Một đường lăn dài 85 mét, rộng 15 mét; Sân đậu máy bay có diện tích 5.500m2 với 5 vị trí đậu cho máy bay; Sân đậu ôtô có diện tích 2.356m2. Nhà ga hành khách có diện tích 426m2. Trang thiết bị phục vụ mặt đất có xe Nạp điện tàu bay, xe chở khách, xe chở hàng, xe cứu thương, xe cứu hỏa.
4. Năng lực phục vụ
    Cảng hàng không Rạch Giá đảm bảo phục vụ an toàn các loại tàu bay ATR-72 và tương đương. Từ năm 1975-1989, hoạt động bay tại cảng hàng không Rạch Giá rất ít, chủ yếu sử dụng loại máy bay AN 24. Từ năm 1989-1994, cảng hàng không Rạch Giá ngưng hoạt động bay dân dụng, chủ yếu phục vụ huấn luyện quân sự. Trong giai đoạn từ 1994-2003, Cảng hàng không Rạch Giá đã phục vụ an toàn 2942 lần chuyến cất hạ cánh, phục vụ 153.928 lượt hành khách đi đến và vận chuyển 878 tấn hàng hóa, hành lý, bưu kiện. Năm 2004, Cảng hàng không Rạch Giá đã phục vụ an toàn 780 lần chuyến cất hạ cánh, phục vụ 34.953 lượt hành khách đi đến và vận chuyển 211 tấn hàng hóa, hành lý, bưu kiện. Năm 2005, Cảng hàng không Rạch Giá đã phục vụ an toàn 756 lần chuyến cất hạ cánh, phục vụ 36.744 lượt hành khách đi đến và vận chuyển 223 tấn hàng hóa, hành lý, bưu kiện. Bốn tháng đầu năm 2006, Cảng hàng không Rạch Giá đã phục vụ an toàn 250 lần chuyến cất hạ cánh – đạt 33.33% kế hoạch năm, phục vụ 12.611 lượt hành khách đi đến – đạt 32,67% kế hoạch năm và vận chuyển 77.794 kg hàng hóa, hành lý, bưu kiện – đạt 33,24% kế hoạch năm. Hiện nay, tuyến Rạch Giá – Phú Quốc có 1 chuyến vào các ngày trong tuần.
5. Định hướng phát triển
    Theo Quyết định phê duyệt qui hoạch tổng thể Cảng hàng không Rạch Giá - Tỉnh Kiên Giang giai đoạn đến 2015, định hướng đến 2025 của Bộ Giao thông vận tải, Cảng Hàng không Rạch Giá đến năm 2015 sẽ là cảng hàng không cấp 3C (theo mã chuẩn của Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế ICAO) và sân bay quân sự cấp II, đảm bảo tiếp nhận các loại máy bay như ATR-72, F 70 và tương đương; Kéo dài đường hạ cất cánh đạt kích thước 1900m x 30m; Mở rộng sân đỗ có diện tích 11.500m2 và xây mới nhà ga hành khách công suất 200 hành khách/giờ cao điểm. Lượng hành khách tiếp nhận là 200.000 lượt hành khách/năm. Đến giai đoạn 2015-2025, Cảng Hàng không Côn Sơn sẽ là cảng hàng không cấp 4C (theo mã chuẩn của Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế ICAO) và sân bay quân sự cấp II, đảm bảo tiếp nhận các loại máy bay như A320/A321 và tương đương; Xây dựng đường hạ cất cánh mới có kích thước 2400m x 45m; Tận dụng đường hạ cất cánh cũ làm đường lăn song song và xây mới 5 đường lăn nối kích thước 18m x 150m; Mở rộng sân đỗ lên 31.500m2 đáp ứng chỗ đỗ cho 1 máy bay A320/A321 và 4 máy bay ATR72; Mở rộng nhà ga hành khách đạt công suất 300 hành khách/giờ cao điểm; Lượng hành khách tiếp nhận là 300.000 lượt hành khách/năm.

2. Cảng hàng không Buôn Ma Thuộc

1. Vị trí - Toạ độ
    Cảng Hàng không Buôn Ma Thuột (Tên giao dịch tiếng Anh là : Buon Ma Thuot Airport; Tên viết tắt là : BMV) nằm ở 12o 40’ 07” Vĩ Bắc; 108o 06’ 41” Kinh Đông. Cảng Hàng không thuộc địa phận xã Hoà Thắng, tỉnh Đắc lắc, cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột 7km về phía Đông Nam (tại km7 quốc lộ 27). Cảng Hàng không nằm ở độ cao 529,9m so với mực nước biển, nằm trong khu vực tương đối bằng phẳng và cao hơn các khu vực xung quanh với độ dốc tự nhiên từ 2% đến 5%, là một trong những đầu mối giao thông quan trọng liên vùng, gắn Tây nguyên với miền Đông Nam bộ, miền Trung, duyên hải miền Nam Trung bộ Khoảng cách từ Cảng hàng không Buôn Ma Thuột tới Cảng hàng không Nội Bài: 970 km; Đà nẵng: 367 km; Tân Sơn Nhất: 254 km.
2.Quá trình hình thành
    Cảng Hàng không Buôn Ma Thuột do Mỹ – Ngụy xây dựng và được đưa vào hoạt động từ 26-09-1972 với chức năng là Cảng Hàng không căn cứ chỉ huy của không quân Ngụy (VCDA). Đây là Cảng Hàng không phục vụ cho các loại máy bay quân sự. Trước đây, Cảng Hàng không Buôn Ma Thuột được gọi là Cảng hàng không Phụng Dực (Phượng Hoàng bay). Ngoài ra, do có quận hành chính Hòa Bình gần Cảng Hàng không nên Cảng hàng không này cũng có tên là Phi trường Hòa Bình. Năm 1975, bộ đội ta tiếp quản Cảng Hàng không Buôn Ma Thuột và đến ngày 10-3-1977, Hàng không dân dụng Việt Nam đã khôi phục và khai thác trở lại Cảng Hàng không Buôn Ma Thuột với chức năng là Cảng hàng không dân dụng nội địa nối liền Tây Nguyên với các trung tâm đô thị lớn của cả nước : thành phồ Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hà Nội và ngược lại.
3. Cơ sở hạ tầng
    Trước năm 1997, Cảng Hàng không Buộn Ma Thuột có một đường hạ cất cánh với kích thước 1.800 mét x 30 mét được cải tạo từ tháng 7/1997; có 1 đường lăn nối giữa đường hạ cất cánh và sân đỗ máy bay với kích thước 250m x 15m được cải tạo từ tháng 1/1997; sân đỗ máy bay kích thước 120m x 90m có thể tiếp nhận 2 máy bay ATR 72 hoặc Fokker 70 được cải tạo từ tháng 1/1997; Nhà ga hành khách nằm sát sân đỗ máy bay được cải tạo từ năm 1995 với kích thước 24m x 64m, diện tích 1536m2, đảm bảo tiếp nhận 120 hành khách/giờ cao điểm. Cảng Hàng không Buộn Ma Thuột đã tiếp tục đầu tư nâng cấp, cải tạo đường hạ cất cánh có chiều dài 3.000 mét, rộng 45 mét với các trang thiết bị phụ trợ, đèn đêm, cũng như đầu tư mới thiết bị như xe thang, xe nâng hàng, xe băng chuyền đảm bảo cho cảng hàng không này đáp ứng việc khai thác của các máy bay A320, A321 và các loại máy bay quân sự hiện đại cả ngày và đêm, sẵn sàng phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế, an ninh, quốc phòng khu vực Tây Nguyên. Ngày 1/9/2003, Cảng hàng không Buôn Ma Thuột được đưa vào khai thác trở lại sau một thời gian gián đoạn do phải đóng cửa từ ngày 12/5/03 để nâng cấp, sửa chữa. Lúc 6g21 sáng ngày 1/9/03, máy bay ATR 72 - số hiệu chuyến bay VN338 đã xuất phát từ Cảng hàng không Tân Sơn Nhất và hạ cánh an toàn lúc 7g04 cùng ngày xuống Cảng hàng không Buôn Ma thuột . Cụm cảng Hàng không miền Nam cũng đã có kế hoạch xây dựng mới nhà ga hành khách để có thể đáp ứng 220 hành khách/giờ cao điểm tương đương với diện tích sử dụng 3300 m2 nhà ga đến năm 2010. Khách sạn Hàng không Buôn Ma Thuột trực thuộc Cảng Hàng không Buôn Ma Thuột toạ lạc tại số 67 Nguyễn Tất Thành, trung tâm Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Dak Lak (Điện thoại: 050 95 5055). Khách sạn có các dịch vụ đặt vé, bán vé máy bay và giữ chỗ cho khách đi các tuyến bay trong nước và quốc tế đồng thời cung cấp dịch vụ phòng nghỉ cho khách khi đến thăm quan và làm việc tại Dak Lak.
4. Tình hình khai thác, phục vụ
    Hoạt động khai thác của Cảng Hàng không Buôn Ma Thuột tăng trưởng mạnh bắt đầu từ những năm 1990 trở lại đây cùng với chủ trương đổi mới và mở cửa của Đảng và Nhà nước. Năm 2004, Cảng hàng không Buôn Ma Thuột đã phục vụ an toàn 1356 lần chuyến cất hạ cánh, phục vụ 65.406 lượt hành khách đi đến và vận chuyền 429 tấn hàng hóa, hành lý, bưu kiện. Năm 2005, Cảng hàng không Buôn Ma Thuột đã phục vụ an toàn 1456 lần chuyến cất hạ cánh – tăng 7,37% so với năm trước, phục vụ 81.835 lượt hành khách đi đến – tăng 25,1% so với năm trước và vận chuyển 534 tấn hàng hóa, hành lý, bưu kiện – tăng 24,64% so với năm trước. Bốn tháng đầu năm 2006, Cảng hàng không Buôn Ma Thuột đã phục vụ an toàn 478 lần chuyến cất hạ cánh – đạt 31.86% kế hoạch năm, phục vụ 28.526 lượt hành khách đi đến – đạt 31,69% kế hoạch năm và vận chuyền 218.948 kg hàng hóa, hành lý, bưu kiện – đạt 37,29% kế hoạch năm. Cảng Hàng không Buôn Ma Thuột phục vụ các chuyến bay quốc nội với tuyến bay chính là Buôn Ma Thuột – Thành phố Hồ Chí Minh – Buôn Ma Thuột do Hãng Hàng không quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) khai thác chủ yếu bằng máy bay ATR-72. Bên cạnh đó đường bay Buôn Ma Thuột – Đà nẵng – Buôn Ma Thuột cũng đang được khai thác khá hiệu quả. Hàng ngày có các chuyến bay từ thành phố Hồ Chí Minh đi Buôn Ma Thuột, hoặc từ Buôn Ma Thuột đi Đà Nẵng và ngược lại. Hàng tuần có 4 chuyến bay đi Hà Nội vào các ngày thứ hai, thứ tư, thứ sáu và thứ bảy. Phòng bán vé 25 Nguyễn Chí Thanh - BMT. ĐT 853830 hoặc tại nhà ga Cảng hàng không : Km 10 quốc lộ 27; ĐT 852648. Bắt đầu từ ngày 23/5/2006, Hãng hàng không quốc gia Việt Nam tổ chức 3 chuyến bay đêm/tuần tuyến Thành phố Hồ Chí Minh – Buôn Ma Thuột và ngược lại bằng máy bay ATR 72 vào các ngày Thứ Ba, Thứ Sáu và Chủ Nhật.
5. Định hướng phát triển
    Theo Quyết định phê duyệt quy hoạch tổng thể Cảng Hàng không Buôn Ma Thuột – giai đoạn đến 2015, định hướng đến 2025 của Bộ giao thông vận tải, Cảng Hàng không Buôn Ma Thuột đến năm 2015 sẽ là cảng hàng không cấp 4C (theo mã chuẩn của Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế ICAO) và sân bay quân sự cấp I, đảm bảo tiếp nhận các loại máy bay như A320/A321, ATR-72, F 70 và tương đương; Lượng hành khách tiếp nhận là 300.000 lượt hành khách/năm, lượng khách giờ cao điểm : 220 hành khách/giờ cao điểm. Đến giai đoạn 2015-2025, Cảng Hàng không Buôn Ma Thuột sẽ là cảng hàng không cấp 4C, xây dựng thêm đường lăn song song kích thước 3000m x 18m, đảm bảo khai thác máy bay A320/A321, ATR-72, F 70 và tương đương với số máy bay tiếp nhận tại giờ cao điểm là 7; Lượng hành khách tiếp nhận là 800.000 lượt hành khách/năm, lượng khách giờ cao điểm : 420 hành khách/giờ cao điểm.

3. Cảng hàng không Cà Mau

1. Vị trí - Toạ độ
    Cảng hàng không Cà Mau (Tên giao dịch tiếng Anh là : Ca Mau Airport; Tên viết tắt : CMA) nằm ở phía đông thành phố Cà Mau, cách trung tâm thành phố 3km và gần như song song với quốc lộ 1A. Phía Đông và phía Bắc Cảng hàng không là ruộng lúa, ao hồ, phía Nam giáp vùng dân cư của thành phố. Từ Cảng hàng không Cà Mau đi Tân Sơn Nhất là 224km, đi Cảng hàng không Phú Quốc là 175km, đi Cảng hàng không Cần Thơ là 116km, đi Cảng hàng không Rạch Giá là 86km. Cảng hàng không Cà Mau nằm ở 105°10’46” kinh độ Đông và 09°10’32” vĩ độ Bắc.
2.Quá trình hình thành
    Phi trường Moranc (nay là Cảng hàng không Cà Mau) được thực dân Pháp xây dựng tại Thị trấn Quản Long, Tỉnh An Xuyên (nay là Thành phố Cà Mau) với đường hạ cất cánh dài 400 mét, rộng 16 mét. Tháng 6/1962, Nha Hàng không của chế độ cũ đã thiết kế lại Cảng hàng không này với qui mô là Cảng hàng không hạng G. Theo đó, diện tích Cảng hàng không là 91,61 hecta, đường hạ cất cánh dài 1050 mét, rộng 30 mét. Sân đỗ có kích thước 60 x 120 mét và được đổi tên thành Phi trường Quản Long. Cảng hàng không này chủ yếu phục vụ cho mục đích quân sự với các loại máy bay trực thăng, L19, OV10, Dakota, C130 và 1 số loại máy bay khác. Mùa khô năm 1972 đường hạ cất cánh và sân đỗ được thay bằng lớp bê tông nhựa. Ngày 30/4/1975, Cảng hàng không Cà Mau được bộ đội ta tiếp quản. Từ năm 1976 đến giữ năm 1978, cảng hàng không này không có hoạt động bay dân dụng, chỉ có các chuyến bay quân sự, chuyến bay thuê chuyến hoặc phục vụ lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Ngày 30/4/1995, Cảng hàng không đã phục vụ chuyến bay khai trương AN 2 VF808 hạ cánh an toàn xuống cảng hàng không Cà Mau. Do chiều dài của đường hạ cất cánh chỉ có 1050m, nên Cảng hàng không Cà Mau chỉ tiếp thu được những loại máy bay nhỏ như AN-2, King Air B200, AS 350, Super Puma 320L, Mi-17. Từ năm 1997 do khách đi máy bay ít nên các chuyến bay thường lịch đã tạm ngừng chỉ còn các chuyến bay thuê chuyến.
3. Cơ sở hạ tầng:
   Do thời gian xây dựng đã quá lâu (trên 30 năm), lại được xây dựng trên vùng đất yếu có điều kiện địa chất thủy văn không thuận lợi cho nền móng công trình, mặt khác từ năm 1975 đến năm 1995 hầu như không khai thác, do đó cơ sở hạ tầng tại Cảng Hàng không Cà Mau đã bị hư hỏng nhiều, đặc biệt là hệ thống đường hạ cất cánh, đường lăn, sân đậu đã bị lão hóa, bề mặt nứt nẻ, không đảm bảo cho việc đưa vào khai thác với tần suất lớn. Đến năm 1995 Cụm cảng Hàng không miền Nam tiến hành nâng cấp, xây dựng mới nhà ga và khu nhà văn phòng Cảng Hàng không Cà Mau. Ngày 30/4/1996, nhà ga Cảng Hàng không Cà Mau được khánh thành. Tháng 7/1996, Cảng Hàng không Cà Mau được lắp đặt đài dẫn đường NDB 500II và máy phát điện dự phòng. Ngày 13/12/2003, Cụm cảng hàng không miền Nam khởi công dự án xây dựng nhà ga cảng Hàng không Cà Mau, với diện tích xây dựng 1548m2, trong đó diện tích sàn tầng trệt : 1548m2, diện tích sàn tầng lửng : 878m2. Năm 1999, đường hạ cất cánh, đường lăn, sân đậu tiếp tục được nâng cấp và kéo dài với quy mô đường hạ cất cánh đạt chiều dài 1500m, rộng 30m, bề mặt phủ bê tông nhựa đảm bảo tiếp nhận các loại máy bay ATR72 và các máy bay tương đương.
4. Năng lực phục vụ
    Cảng Hàng không Cà Mau là sân bay Hàng không dân dụng cấp 3C có khả năng tiếp nhận các loại máy bay như ATR-72, AN-2, MIA-17, KINGAIR B200 và các loại máy bay khác có trọng tải cất cánh tương đương. Năm 2004, Cảng hàng không Cà Mau đã phục vụ an toàn 398 lần chuyến cất hạ cánh, phục vụ 8.975 lượt hành khách đi đến và vận chuyển 41.583 kg hàng hóa, hành lý, bưu kiện. Năm 2005, Cảng hàng không Cà Mau đã phục vụ an toàn 791 lần chuyến cất hạ cánh – tăng 98,7% so với năm trước, phục vụ 24.324 lượt hành khách đi đến – tăng 171% so với năm trước và vận chuyển 125.341 kg hàng hóa, hành lý, bưu kiện – tăng 201,42% so với năm trước. Bốn tháng đầu năm 2006, Cảng hàng không Cà Mau đã phục vụ an toàn 160 lần chuyến cất hạ cánh – đạt 29.62% kế hoạch năm, phục vụ 8.459 lượt hành khách đi đến – đạt 33,17% kế hoạch năm và vận chuyển 48.942 kg hàng hóa, hành lý, bưu kiện – đạt 37,36% kế hoạch năm. Cùng với sự phát triển của đất nước, Cụm cảng Hàng không miền Nam đã không ngừng cải tạo, nâng cấp Cảng Hàng không Cà Mau, tăng khả năng khai thác và phục vụ tốt việc đi lại tại Cảng Hàng không, đảm bảo an toàn giao thông hàng không, đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai, góp phần vào sự lớn mạnh của Hàng không Việt Nam. Hiện nay, tuyến Thành phố Hồ Chí Minh đi Cà Mau và ngược lại có 4 chuyến/tuần vào các ngày Thứ Hai, thứ Tư, thứ Sáu và Chủ Nhật bằng máy bay ATR 72.
5. Định hướng phát triển
    Theo Quyết định phê duyệt quy hoạch tổng thể Cảng Hàng không Cà Mau – giai đoạn đến 2015, định hướng đến 2025 của Bộ giao thông vận tải, Cảng Hàng không Cà Mau đến năm 2015 sẽ là cảng hàng không cấp 3C (theo mã chuẩn của Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế ICAO) và sân bay quân sự cấp II, trong đó đường hạ cất cánh hiện tại sẽ được kéo dài đạt kích thước 1900m x 30m, đảm bảo tiếp nhận các loại máy bay như ATR-72, F 70 và tương đương với số máy bay tiếp nhận tại giờ cao điểm là 2; Lượng hành khách tiếp nhận là 200.000 lượt hành khách/năm, lượng khách giờ cao điểm : 150 hành khách/giờ cao điểm. Đến giai đoạn 2015-2025, Cảng Hàng không Cà Mau sẽ là cảng hàng không cấp 4C, xây dựng đường hạ cất cánh mới 2400m x 45m, đảm bảo khai thác máy bay A 320/321 và tương đương với số máy bay tiếp nhận tại giờ cao điểm là 4; Lượng hành khách tiếp nhận là 300.000 lượt hành khách/năm, lượng khách giờ cao điểm : 300 hành khách/giờ cao điểm.

4. Cảng hàng không Cần Thơ

1. Vị trí - Toạ độ
    Cảng hàng không Cần Thơ nằm dọc theo sông Hậu Giang - Đầu đông của Cảng hàng không cách sông Hậu Giang 700m, phía Bắc cách rạch Trà Nóc 500m, phía Tây giáp với rạch Chùa. Cảng hàng không Cần Thơ có vị trí rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng cho Cần Thơ và khu vực, thúc đẩy Thành phố Cần Thơ vươn lên đô thị loại 1 cấp quốc gia trong tương lai và thúc đẩy sự phát triển của các tỉnh khu vực đồng bằng Sông Cửu Long. Thành phố Cần Thơ là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội, du lịch, dịch vụ của vùng ĐBSCL, do đó Cần Thơ có vị trí đặc biệt quan trọng trong định hướng phát triển kinh tế vùng này. Sự phát triển về kinh tế, xã hội của Cần Thơ có một vai trò quan trọng trong việc góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của cả vùng Đồng bằng Sông Cửu Long nói chung.
2.Quá trình hình thành
    Cảng hàng không Cần Thơ (còn gọi là sân bay Trà Nóc) được xây dựng vào những năm 1960 có đường hạ cất cánh 1800m x 30m. Trước ngày 30/4/1975, Cảng hàng không Cần Thơ là căn cứ không quân của chế độ cũ tại Đồng bằng Sông Cửu Long. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Cảng hàng không Cần Thơ do Bộ Quốc phòng trực tiếp quản lý.
3. Cơ sở hạ tầng
    Từ năm 1975 đến 1996, các công trình Cảng hàng không hầu như không được xây dựng thêm, chỉ thực hiện sửa chữa với quy mô nhỏ. Năm 1993, Cảng hàng không Cần Thơ tiếp nhận 3 lần chuyến bay/tuần của Vietnam Airlines, tuyến Thành phố Hồ Chí Minh – Phú Quốc - Cần Thơ - Thành phố Hồ Chí Minh và ngược lại bằng máy bay ATR 72 và YAK40 trong điều kiện chỉ có máy móc thông tin VHF, SSB, thiết bị an ninh, thương vụ - còn nhà ga, đài dẫn đường, xe chữa cháy và các cơ sở hạ tầng khác là thuê của Tiểu đoàn căn cứ Cần Thơ thuộc Sư đoàn 370 Không quân. Trong giai đoạn từ năm 1994-2000, Cảng hàng không Cần Thơ được nâng cấp, cải tạo, kéo dài đường HCC đạt chiều dài 2400m để phục vụ cho mục đích quốc phòng. Hiện nay, đường hạ cất cánh có kết cấu mặt đường bê tông nhựa dài 2400m, rộng 45m, lề đường hạ cất cánh rộng mỗi bên 7,5m, sân đỗ máy bay đáp ứng 4 vị trí đỗ máy bay A321 vận hành theo phương thức tự lăn vào, tự lăn ra và các công trình sân đường phục vụ bay đang được thi công cải tạo và nâng cấp để đảm bảo khai thác các loại máy bay A320, A321 và các loại máy bay tương đương; nhà ga hành khách công suất 500 khách/giờ cao điểm... phục vụ các đường bay từ Cần Thơ đi Đà Nẵng, Hải Phòng, Hà Nội và một số đường bay đi, đến quốc tế khác. Sau khi cải tạo nâng cấp, cảng hàng không Cần thơ sẽ đạt tiêu chuẩn tương đương sân bay dân dụng cấp 4D theo tiêu chuẩn ICAO. Ngày 5/8/2003, Sư đoàn 370 (theo sự ủy quyền của Quân chủng PKKQ)đã tiến hành bàn giao đất tại Cảng Hàng không Cần Thơ cho Cụm cảng hàng không miền Nam để triển khai Dự án “Quy hoạch khu hàng không dân dụng ” với diện tích 34,8 ha. Hiện tại, Cụm cảng hàng không miền Nam đang triển khai dự án “cải tạo nâng cấp đường hạ cất cánh, đường lăn và sân đậu máy bay Cảng hàng không quốc tế Cần Thơ”, dự kiến sẽ đưa vào khai thác vào cuối năm 2007. Sau khi hoàn thành giai đoạn 1, Cảng hàng không quốc tế Cần Thơ có thể tiếp thu các loại máy bay A 320, A 321 và tương đương, phục vụ các chuyến bay nội địa nối thành phố Cần Thơ với các miền đất nước, trong tương lai gần sẽ nối Thành phố Cần Thơ với các vùng Đông – Nam Á, Đông - Bắc Á. Hiện nay, Cụm cảng cũng đang triển khai công tác chuẩn bị cho Dự án Xây dựng nhà ga hành khách Cảng hàng không quốc tế Cần Thơ theo tiêu chuẩn phục vụ hành khách loại C của IATA có 2 cao trình với tổng diện tích sàn 20.750m2 và đáp ứng công suất 2 triệu hành khách/năm.
4. Hoạt động hàng không
    Từ năm 1977 đến 1978, Hàng không dân dụng sử dụng máy bay DC3 để thực hiện các chuyến bay từ Tân Sơn Nhất đến Cần Thơ và ngược lại, nhưng từ giữa năm 1978 hoạt động bay dân dụng tại Cần Thơ tạm ngưng cho đến ngày 30/4/1993 do lượng hành khách quá thấp không mang lại hiệu quả. Tháng 1/1994, Công ty bay dịch vụ Việt Nam (VASCO) triển khai thực hiện lịch bay 5 lần chuyến/tuần với tuyến bay Thành phố Hồ Chí Minh - Cần Thơ - Thành phố Hồ Chí Minh và ngược lại bằng máy bay Islander, Beechcraft King-air B200, Jetstream 31. Đến tháng 5/1994, VASCO ngưng bay thường lịch mà chỉ phục vụ bay MIA, thuê chuyến của VASCO hoặc SFC và có thời gian làm dự bị cho các máy bay của Vietnam Airlines khi không thể hạ cánh Tân Sơn Nhất hoặc Biên Hòa vì lý do thời tiết. Từ đó cho đến nay, Cảng hàng không Cần Thơ phục vụ các hoạt động quân sự - chủ yếu là bay huấn luyện.
5. Định hướng phát triển
    Theo dự kiến, đến năm 2008, cảng hàng không Cần Thơ sẽ đi vào hoạt động, khai thác các đường bay quốc tế và nội địa nhưng ngay từ bây giờ lãnh đạo các tỉnh, thành phố và các sân bay nội địa ở ĐBSCL cũng đã có kế hoạch liên kết khai thác những lợi thế mà cảng hàng không Cần Thơ mang lại. Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, Cụm cảng sẽ triển khai các công tác chuẩn bị cho việc đầu tư kéo dài đường hạ cất cánh hiện nay để đảm bảo cho việc khai thác máy bay B767, B777 và tương đương giai đoạn đến năm 2010, theo đó đường hạ cất cánh đang thi công kích thước 2400m x 45m sẽ được kéo dài đạt kích thước 3000m x 45m; nâng cấp sức chịu tải của đoạn 2400m đường hạ cất cánh đang thi công để đảm bảo tiếp thu các loại máy bay B767, B777 và tương đương. Hiện nay, phương hướng phát triển hệ thống giao thông bền vững vùng đồng bằng Sông Cửu Long đến năm 2010 và định hướng đến 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thực hiện. Theo đó, sự đầu tư nâng cấp Cảng hàng không Cần Thơ và Nhà ga hành khách đưa vào khai thác sẽ tạo hệ thống giao thông đồng bộ, liên hoàn và kết hợp được các hình thức vận tải (hàng không, đường bộ, đường thủy,…), đáp ứng yêu cầu vận chuyển phục vụ hành khách và hàng hóa, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội của vùng Đồng bằng sông Cửu long, sẽ đưa Đồng bằng sông Cửu long hội nhập mạnh hơn với cả nước, khu vực và quốc tế.

5. Cảng hàng không Côn Sơn

1. Vị trí - Toạ độ
    Cảng hàng không Côn Sơn có tên giao dịch tiếng Anh là Con Son Airport (tên viết tắt : VCS) . Cảng hàng không Côn Sơn nằm tại phía Bắc – Đông Bắc đảo Côn Sơn, huyện Côn Đảo thuộc Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, cách trung tâm huyện đảo 12 km đường đèo Côn Đảo là một quần đảo gồm 16 hòn đảo nằm ngoài khơi bờ biển phía Nam có vị trí địa lý: 8034’, đến 804, vĩ độ Bắc và 106031’, đến 106043’ kinh độ Đông cách Thành Phố Hồ Chí Minh khoảng 230km, cách Vũng Tàu 185km và cách cửa sông Hậu 83km. Diện tích toàn quần đảo 76,78km2. Côn Đảo có vị trí địa lý kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng quan trọng. Được thiên nhiên đặc biệt ưu đãi, Côn Đảo có nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú cho phát triển các loại hình du lịch như : du lịch sinh thái rừng - biển, du lịch văn hóa lịch sử, du lịch thể thao kết hợp với du lịch nghỉ dưỡng. Mặt khác, Côn Đảo nằm án ngữ đường hàng hải quốc tế từ Âu sang Á, lại ở ngay giữa ngư trường chính của cả nước và lại rất gần khu vực khai thác dầu khí nên càng có ý nghĩa chiến lược quan trọng về mọi mặt. Xác định được tầm quan trọng của Côn Đảo trong các lĩnh vực an ninh - quốc phòng – chính trị - xã hội – kinh tế, đồng thời Côn Đảo được dự báo sẽ có bước đột phá cho chiến lược phát triển kinh tế biển và du lịch của Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, dự án Quy hoạch chung Côn Đảo được Chính phủ phê duyệt đã mở ra tiền đề cho việc đầu tư phát triển Côn Đảo theo quy hoạch với các mục tiêu cụ thể.
2.Quá trình hình thành
    Cảng hàng không Côn Sơn được người Pháp xây dựng năm 1947 và sau đó nhiều lần được người Mỹ sủa chữa nâng cấp nhằm phục vụ mục đích quân sự và xâm lược miền Nam Việt Nam. Cảng hàng không Côn Sơn có một đường hạ cất cánh dài 1150 mét, rộng 30 m, một đường lăn dài 80m, rộng 25m và một sân đậu máy bay có diện tích 7200m2 với kết cấu bề mặt chủ yếu là lớp đá thấm nhập nhựa
3. Cơ sở hạ tầng
    Với điều kiện hạ tầng của Sân bay Côn Sơn trước đây, việc tiếp thu các máy bay cánh bằng không thể thực hiện được. Do đó, thực hiện chủ trương đầu tư, kích cầu của Chính phủ, Bộ Giao thông vận tải và Cục hàng không Việt Nam đã cho phép Cụm cảng hàng không miền Nam tiến hành khởi công Dự án “Cải tạo, nâng cấp cảng hàng không Côn Sơn - giai đoạn 1” từ 7/7/2003 và hoàn tất vào ngày 5/1/2004 để đảm bảo sân bay tiếp nhận các lọai máy bay dân dụng như ATR 72 và tương đương, đồng thời đảm bảo khai thác các lọai máy bay quân sự hiện có. Sau khi Dự án “Cải tạo, nâng cấp cảng hàng không Côn Sơn” được khởi công từ tháng 7 năm 2003 và đến cuối năm 2004 hoàn thành các hạng mục xây dựng hiện đã được đưa vào khai thác, Cảng hàng không Côn Sơn có một đường hạ cất cánh đạt chiều dài 1830mét, rộng 30mét; Một đường lăn được làm mới dài : 80m, rộng: 15m; Sân đậu máy bay khu hàng không dân dụng được cải tạo, mở rộng có diện tích 9270m2 với 2 vị trí đậu cho ATR 72 và Fokker 70. Ngày 3/7/2004, Cụm cảng hàng không miền Nam tiến hành khởi công xây dựng Nhà ga sân bay Côn Sơn và hoàn thành đưa vào khai thác trước Tết Âm lịch Kỷ Dậu (2005). Nhà ga hành khách được xây dựng với khả năng phục vụ 180 hành khách/giờ cao điểm với tổng diện tích nhà ga là 2777m2, gồm 2 tầng (1 trệt, 1 lửng).
4. Năng lực phục vụ
    Ngày 9/5/2004, Cảng hàng không Côn Sơn đi vào hoạt động, khai thác phục vụ chuyến bay đầu tiên tuyến thành phố Hồ Chí Minh – Côn Đảo - thành phố Hồ Chí Minh của Công ty bay dịch vụ hàng không Việt Nam (VASCO) đã không những tạo điều kiện thuận lợi phục vụ nhu cầu dân dụng, dịch vụ dầu khí, cứu hộ biển, tạo điều kiện để nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế đến tìm hiểu, khám phá Côn Đảo mà còn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội và du lịch của Côn đảo, cùng người dân vùng đảo đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa và phát triển mọi mặt của toàn đảo. Năm 2004, Cảng hàng không Côn Sơn đã phục vụ an toàn 96 lần chuyến cất hạ cánh, phục vụ 1.454 lượt hành khách đi đến và vận chuyền 9944 kg hàng hóa, hành lý, bưu kiện. Năm 2005, Cảng hàng không Côn Sơn đã phục vụ an toàn 704 lần chuyến cất hạ cánh, phục vụ 19.839 lượt hành khách đi đến và vận chuyền 128 tấn hàng hóa, hành lý, bưu kiện. Bốn tháng đầu năm 2006, Cảng hàng không Côn Sơn đã phục vụ an toàn 108 lần chuyến cất hạ cánh – đạt 26.34% kế hoạch năm, phục vụ 9.994 lượt hành khách đi đến – đạt 28,81% kế hoạch năm và vận chuyển 45.395 kg hàng hóa, hành lý, bưu kiện – đạt 33,37% kế hoạch năm. Hiện nay, Công ty bay dịch vụ hàng không Việt Nam đang khai thác tuyến Thành phố Hồ Chí Minh đi Côn Đảo và ngược lại vào các ngày Thứ Ba, thứ Năm và thứ Bảy bằng máy bay ATR 72.
5. Định hướng phát triển
    Theo Quyết định phê duyệt qui hoạch tổng thể Cảng hàng không Côn Sơn - Tỉnh Bà Rịa Vũng tàu giai đoạn đến 2015, định hướng đến 2025 của Bộ Giao thông vận tải, Cảng Hàng không Côn Sơn đến năm 2015 sẽ là cảng hàng không cấp 3C (theo mã chuẩn của Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế ICAO) và sân bay quân sự cấp II, đảm bảo tiếp nhận các loại máy bay như ATR-72, F 70 và tương đương; xây dựng sân đỗ có diện tích 13.320m2 và xây nhà ga hành khách công suất 195 hành khách/giờ cao điểm. Đến giai đoạn 2015-2025, Cảng Hàng không Côn Sơn mở rộng sân đỗ có diện tích 16.920m2 đáp ứng 3 ATR 72 và 1 dự phòng; nâng cấp mở rộng nhà ga hành khách đạt công suất 300 hành khách/giờ cao điểm; Lượng hành khách tiếp nhận là 500.000 lượt hành khách/năm.

6. Sự Cảng hàng không Liên Khương

1. Vị trí - Toạ độ
    Cảng hàng không Liên Khương có tên giao dịch tiếng Anh là Lien Khuong Airport ( tên viết tắt là DLI ) nằm ở tọa độ 11° 45’15” vĩ bắc và 106°25’09” kinh đông, thuộc thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, cách trung tâm thành phố Đà Lạt 28km về phía Bắc và trung tâm thị trấn Liên Nghĩa 4km về phía Nam. Cảng hàng không Liên Khương có tên giao dịch tiếng Anh là Lien Khuong Airport ( tên viết tắt là DLI ) nằm ở tọa độ 11° 45’15” vĩ bắc và 106°25’09” kinh đông, thuộc thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, cách trung tâm thành phố Đà Lạt 28km về phía Bắc và trung tâm thị trấn Liên Nghĩa 4km về phía Nam. Cảng hàng không Liên Khương tiếp giáp phía Bắc với quốc lộ 27 đi Đắc Lắc, phía Đông bắc giáp quốc lộ 22 đi thành phố Đà Lạt, phía Tây và Nam giáp với đồi núi và thung lũng trống. Cao độ cảng hàng không Liên Khương là 962m so với mặt nước biển. Khoảng cách theo đường chim bay từ cảng hàng không Liên Khương đến một số cảng hàng không khác là:
- Liên Khương – Tân Sơn Nhất : 214 km
- Liên Khương – Hà Nội : 968km
Cảng Hàng không Liên Khương là đầu mối giao thông đường hàng không quan trọng đưa khách du lịch trong và ngoài nước đến với thành phố Đà Lạt, một trong những trung tâm du lịch dã ngoại hấp dẫn của Việt nam. Thành phố Đà Lạt là trung tâm du lịch, nghỉ dưỡng của cả nước và quốc tế, đồng thời Đà Lạt còn là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học của vùng, là trung tâm huấn luyện thể dục thể thao, hội nghị hội thảo và trung tâm Rau – Hoa của quốc gia. Sự phát triển về kinh tế, xã hội của Đà Lạt - Lâm Đồng có một vai trò quan trọng trong việc góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của cả khu vực phía Nam Tây Nguyên nói chung.
2.Quá trình hình thành
    Cảng hàng không Liên Khương được người Pháp xây dựng từ năm 1933 với một đường hạ cất cánh (HCC ) bằng đất dài 700 mét .
Những năm 1956 – 1960 người Mỹ đã tu sửa, nâng cấp cảng hàng không Liên Khương với cơ sở hạ tầng khá hòan chỉnh, trong đó nhà ga được thiết kế theo kiến trúc Pháp, loại nhà 3 tầng, cấp I. Công suất 50.000 hành khách/năm, khoảng 120 hành khách/giờ cao điểm.
Những năm 1964 – 1972 toàn bộ hệ thống đường HCC, sân đậu, đường giao thông được tiếp tục nâng cấp, phủ bê tông nhựa dày từ 8 – 10cm.Cụ thể đường HCC dài 1.480m, rộng 37m, sân đỗ máy bay 23.100m2, sân đỗ ô tô 2.106m2, đường ô tô 2100m
Từ sau 30/4/1975 đến năm 1980 cảng hàng không Liên Khương được Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp quản và điều hành. Chủ yếu phục vụ cán bộ lãnh đạo đi công tác và vận chuyển dân đi vùng kinh tế mới Lâm Đồng từ các tỉnh phía Bắc
Từ năm 1981-1985 cảng hàng không Liên Khương triển khai hoạt động phục vụ vận chuyển hành khách, đường bay T.p Hồ Chí Minh – Liên Khương với tần suất 01 chuyến/tuần bằng máy bay AK.40.Tuy nhiên, sau đó đường bay tạm ngưng hoạt động do lượng khách ít.
Từ năm 1992 cảng hàng không Liên Khương triển khai họat động phục vụ vận chuyển hành khách trở lại, ngoài đường bay Thành phố Hồ Chí Minh – Liên Khương , thời kỳ này còn mở thêm Liên Khương - Huế và ngược lại, lọai máy bay sử dụng là AK40 và sau này được thay thế bằng ATR.72.
Từ tháng 10 năm 2004 phục vụ thêm đường bay Liên Khương – Hà Nội và ngược lại bằng máy bay Fokker 72.
3. Cơ sở hạ tầng
    Cảng hàng không Liên Khương có một đường hạ cất cánh dài 2.350 mét, rộng 37 mét; Một đường lăn dài 94mét, rộng 19mét; Sân đậu máy bay có diện tích 23.100m2 với 5 vị trí đậu cho máy bay ATR 72 và Fokker 70; Sân đậu ôtô có diện tích 1.478m2. Nhà ga hành khách có diện tích 1.000m2. Trang thiết bị phục vụ mặt đất có xe Nạp điện tàu bay, xe chở khách, xe chở hàng, xe cứu thương, xe cứu hỏa.
Ngày 2/9/2003 khởi công dự án “ Cải tạo mở rộng, nâng cấp đường HCC, đường lăn, sân đỗ máy bay- cảng hàng không Liên Khương” do Cụm cảng hàng không miền Nam làm chủ đầu tư, quy mô sau khi hoàn thành đảm bảo khai thác được các loại máy bay dân dụng tầm trung như A.320, A.321 và tương đương, cảng hàng không đạt tiêu chuẩn cấp 4C và sân bay quân sự cấp 2.
4. Năng lực phục vụ
    Cảng hàng không Liên Khương đảm bảo phục vụ an toàn các loại tàu bay ATR-72, Fokker 70 và tương đương. Trong giai đoạn từ 1994-2003, Cảng hàng không Liên Khương đã phục vụ an toàn 6255 lần chuyến cất hạ cánh, phục vụ 263.175 lượt hành khách đi đến và vận chuyển 2071 tấn hàng hóa, hành lý, bưu kiện. Năm 2004, Cảng hàng không Liên Khương đã phục vụ an toàn 898 lần chuyến cất hạ cánh, phục vụ 49.226 lượt hành khách đi đến và vận chuyền 474 tấn hàng hóa, hành lý, bưu kiện. Năm 2005, Cảng hàng không Liên Khương đã phục vụ an toàn 1162 lần chuyến cất hạ cánh – tăng 29,39% so với năm trước, phục vụ 73.872 lượt hành khách đi đến – tăng 50,06% so với năm trước và vận chuyền 746 tấn hàng hóa, hành lý, bưu kiện – tăng 24,64% so với năm trước. Bốn tháng đầu năm 2006, Cảng hàng không Liên Khương đã phục vụ an toàn 390 lần chuyến cất hạ cánh – đạt 32.5% kế hoạch năm, phục vụ 26.356 lượt hành khách đi đến – đạt 32,45% kế hoạch năm và vận chuyển 291.085 kg hàng hóa, hành lý, bưu kiện – đạt 35,45% kế hoạch năm. Hiện nay, hàng ngày đều có 1 chuyến bay từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Liên Khương - ngược lại; Tuyến Liên Khương - Hà Nội và ngược lại có 4 chuyến/tuần vào các ngày thứ Ba, thứ Năm, thứ Sáu và Chủ Nhật bằng máy bay Fokker 70.
5. Định hướng phát triển
    Xác định rõ Cảng hàng không Liên Khương có vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội, chính trị của Lâm Đồng cũng như của cả khu vực Phía Nam Tây Nguyên nên Cục hàng không Việt Nam, Cụm cảng hàng không miền Nam đã triển khai đầu tư Dự án xây dựng mới đường hạ cất cánh dài 3.250m, rộng 45m, cải tạo đường hạ cất cánh hiện hữu thành đường lăn, sân đậu máy bay có sức chứa 6-8 máy bay loại tầm trung để phục vụ các loại máy bay B.767, A.320, A.321.Dự kiến một phần công trình sẽ được đưa vào khai thác trong quý 3 năm 2006. Để đồng bộ cơ sở hạ tầng cảng hàng không Liên Khương, hiện nay Cụm cảng hàng không miền Nam cũng đang khẩn trương triển khai Dự án xây dựng nhà ga hành khách mới tại đây dự kiến được bố trí thành 2 cao trình tách biệt, phục vụ cả hành khách quốc tế và quốc nội. Ga quốc tế và quốc nội nằm về 2 cánh của nhà ga, có tổng diện tích là 12.330m2 để đảm bảo đến năm 2015, Cảng hàng không Liên Khương đáp ứng phục vụ 414 hành khách quốc nội và 306 hành khách quốc tế giờ cao điểm, tương đương với công suất 943.301 hành khách/năm.

7. Cảng hàng không Phú Quốc

1. Vị trí - Toạ độ
    Cảng hàng không Phú Quốc (Tên giao dịch quốc tế: Phu Quoc Airport; Viết tắt: PQC) nằm trên tọa độ quy chiếu 103°57’68” Kinh Đông và 10° 13’26” Vĩ Bắc. Cảng hàng không Phú Quốc nằm trong thị trấn Dương Đông thuộc huyện đảo Phú Quốc tỉnh Kiên Giang. Với cao độ +5,60 m so với mực nước biển. Khoảng cách từ Cảng hàng không Phú Quốc đi các cảng hàng không Tân Sơn Nhất là 300 km; Rạch Giá là 130 km; Cần Thơ: 190 km; Cà Mau: 200 km; Liên Khương: 540 km. Cảng hàng không Phú Quốc (Tên giao dịch quốc tế: Phu Quoc Airport; Viết tắt: PQC) nằm trên tọa độ quy chiếu 103°57’68” Kinh Đông và 10° 13’26” Vĩ Bắc. Cảng hàng không Phú Quốc nằm trong thị trấn Dương Đông thuộc huyện đảo Phú Quốc tỉnh Kiên Giang. Với cao độ +5,60 m so với mực nước biển. Khoảng cách từ Cảng hàng không Phú Quốc đi các cảng hàng không Tân Sơn Nhất là 300 km; Rạch Giá là 130 km; Cần Thơ: 190 km; Cà Mau: 200 km; Liên Khương: 540 km. Đã từ lâu rồi huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang được xem là “ Đảo ngọc” của quốc gia với nhiều lợi thế phát triển về du lịch, thương mại, dịch vụ. Phú Quốc đang từng bước được xây dựng thành trung tâm du lịch (sinh thái, nghỉ dưỡng và du lịch biển) tầm cỡ khu vực và quốc tế với các hình thức dịch vụ chất lượng cao, thu hút nhiều du khách quốc tế và đáp ứng yêu cầu của khách du lịch trong nước. Đến năm 2010 phấn đấu hình thành được một số khu du lịch và vui chơi giải trí chất lượng cao, hằng năm thu hút được khoảng 300.000-350.000 du khách góp phần giải quyết việc làm, nâng cao đời sống văn hóa, xã hội cho nhân dân.
2.Quá trình hình thành
    Cảng hàng không Phú Quốc được xây dựng trong thời kỳ Pháp thuộc và tiếp tục được khai thác trong thời kỳ đế quốc Mỹ xâm chiếm Miền Nam. Ban đầu Cảng hàng không chỉ có một đường hạ cất cánh dài 996m đến năm 1983 được kéo dài 500m để thành 1496m. Năm 1993 mặt đường hạ cất cánh được cải tạo nâng cấp, có một đường lăn vuông góc dài 148,5m và sân đỗ có diện tích 120 x 60m. Năm 1994-1995 Cảng hàng không Phú Quốc xây dựng nhà ga và một số công trình phục vụ hành khách và phục vụ điều hành bay. Từ sau ngày giải phóng đất nước tháng 4/1975 cảng hàng không Phú Quốc nhanh chóng được đưa vào khai thác phục vụ việc đi lại của nhân dân, cán bộ sinh sống trên đảo cũng như du khách đi và đến Phú Quốc . Do vị trí đảo Phú Quốc là một huyện đảo nằm ngoài khơi xa, chưa thực sự có các phương tiện giao thông thủy phát triển có thể coi vận chuyển hàng không là phương tiện chính đến đảo. Thời gian đầu việc vận chuyển chủ yếu sử dụng loại máy bay DC3 với sức chứa 32 ghế. Từ năm 1982 đến nay máy bay khai thác chính là AN24, IAK-40 và ATR-72.
3. Năng lực phục vụ
    Hiện nay, Cảng hàng không Phú Quốc có năng lực đảm bảo phục vụ an toàn các loại tàu bay ATR.72, FOKKER 70 và tương đương với 1 Đường hạ cất cánh kích thước 2100m x 30m; một đường lăn kích thước 109,5m x 15m; 1 sân đỗ máy bay có diện tích 11.626,86m2. Nhà ga mới xây dựng thay thế nhà ga cũ, khánh thành năm 2004 có diện tích 2500m2 trong đó bố trí quy trình phục vụ khách đi ,đến hợp lý và các thiết bị hiện đại như thiết bị cân hành lý xách tay, máy soi kiểm tra an ninh, bảng điện tử thông báo chuyến bay, giờ bay ...Sân đỗ ô tô có diện tích 8200m2. Nhìn chung do vị trí đặc biệt của Cảng hàng không Phú Quốc nên trong suốt quá trình khai thác lượng khách đi đến Cảng hàng không Phú Quốc ổn định với hệ số ghế sử dụng luôn đạt từ 90 –100%. Đường bay Tp.Hồ Chí Minh - Phú Quốc - Rạch Giá – và ngược lại đang được khai thác với tần suất 7 chuyến / tuần vào các ngày trong tuần bằng máy bay ATR 72. Hiện nay, hàng ngày đều có 4 chuyến bay từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Phú Quốc - ngược lại. Năm 2003, Cảng hàng không Phú Quốc đã phục vụ an toàn 2616 lần chuyến cất hạ cánh, phục vụ 138.795 lượt hành khách đi đến và vận chuyền 1.034 tấn hàng hóa, hành lý, bưu kiện. Năm 2004, Cảng hàng không Phú Quốc đã phục vụ an toàn 3004 lần chuyến cất hạ cánh, phục vụ 153.734 lượt hành khách đi đến và vận chuyền 1.444 tấn hàng hóa, hành lý, bưu kiện. Năm 2005, Cảng hàng không Phú Quốc đã phục vụ an toàn 3508 lần chuyến cất hạ cánh – tăng 16,77% so với năm trước, phục vụ 183.520 lượt hành khách đi đến – tăng 19,37% so với năm trước và vận chuyền 1.830 tấn hàng hóa, hành lý, bưu kiện – tăng 26,76% so với năm trước. Bốn tháng đầu năm 2006, phục vụ 1264 lần chuyến cất hạ cánh - đạt 34.72% kế hoạch năm, phục vụ 73.030 lượt hành khách đi đến – 36,17đạt % kế hoạch năm và vận chuyền 769 tấn hàng hóa, hành lý, bưu kiện - đạt 38,16% kế hoạch năm.
4. Định hướng phát triển
    Hiện tại Cụm cảng hàng không miền Nam đang triển khai ở đảo Phú Quốc một dự án xây dựng sân bay mới vị trí ở Dương Tơ nhằm mục đích sử dụng từ năm 2010 cho các loại máy bay tầm ngắn trung (A 320, A 321, B737...). Qui mô dự án : Cảng hàng không mới đầu tư xây dựng đạt tiêu chuẩn 4E theo qui định của ICAO, có đường hạ cất cánh 45m x 3000m, đường lăn song song 23m x 3000m, có hệ thống đường lăn tắt đáp ứng yêu cầu khai thác, đài kiểm soát không lưu, sân đậu máy bay có 6-8 vị trí đậu cho máy bay A 320- A 321 vào giờ cao điểm với diện tích 60000m2; nhà ga hành khách công suất 2 triệu khách/năm có diện tích khoảng 20000 m2; có trang thiết bị điều hành chỉ huy bay và các hạng mục kỹ thuật khác.

Hotline:
0.944.944.789
0.934.99.89.79
Trụ sở chính:
376A Trương Công Định, Phường 8, TP. Vũng Tàu
Điện thoại:
(064).3.500878
(064).3.584084
Fax:
(064).3.584084


Hỗ trợ trực tuyến
Nguyễn Quốc Hưng




Công ty TNHH Thương Mại Dịch Vụ Tri Thức - Đại lý Vé máy bay
Cung cấp vé Vietnam Airlines, Jetstar, Indochina và vé Quốc tế các hãng hàng không United Airlines, Cathay, Malaysia, Ave, JAL, All Nippon, Korean Air, China Air, Qatas, Thai Airways, Air France, Singapore Airlines ...
Mọi chi tiết xin liên hệ: (064).3.500.878 - (064).3.584084 - Địa chỉ 376A Trương Công Định, Phường 8, TP. Vũng Tàu
Website: http://www.vemaybayvungtau.com | Email: sales@vemaybayvungtau.com